Tiếng Việt – Wikipedia

Tiếng Việt, còn gọi tiếng Việt Nam[4] hay Việt ngữ, là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam. Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam, cùng với hơn bốn triệu người Việt hải ngoại Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Hán để viết, sau đó được cải biên thành chữ Nôm, tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á có số người nói nhiều nhất (nhiều hơn một số lần so với các ngôn ngữ khác cùng hệ cộng lại). Ngày nay tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc ngữ, cùng các dấu thanh để viết.

Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế đặt mã ngôn ngữ hai chữ cái cho tiếng Việt là “vi” (tiêu chuẩn ISO 639-1) và đặt mã ngôn ngữ ba chữ cái cho tiếng Việt là “vie” (tiêu chuẩn ISO 639-2).[5]

Tiếng Việt được chính thức ghi nhận trong hiến pháp là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam.[6] Tiếng Việt bao gồm cách phát âm tiếng Việt và chữ Quốc ngữ để viết. Tuy nhiên, “chưa có bất kỳ văn bản nào của Nhà nước (cấp quốc gia) công nhận đó là quốc tự…”[7]

Cũng cần lưu ý tránh nhầm lẫn với Việt ngữ (粵語), là ngôn ngữ được sử dụng ở miền nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây) cũng như ở Hồng Kông, Ma Cao mà ta gọi là tiếng Quảng Đông.

hoànglonghải – Phong thủy Việt nam: Bắc phần và Hà Nội — Quán Văn

Không lãng mạn, không phải là người Việt Nam. (?) Cuối năm 1958, khi giáo sư Lê Hữu Mục còn làm chủ biên tuần báo “Rạng Đông”, một hôm tôi đến nhà giáo sư – tôi đang học môn “Văn Học Sử” với ông ở Dự bị Văn khoa. Lúc ấy có mấy người đang…

via hoànglonghải – Phong thủy Việt nam: Bắc phần và Hà Nội — Quán Văn

Mục tiêu học chữ Hán Nôm.

Ngôn ngữ cũng tức là tư duy

Khi ngôn ngữ đc phát biểu thành lời nói nó mang tính logic. Nó thể hiện ý tưởng của người nói và tiếng nói với âm điệu sẽ tạo ra ấn tượng đối với người nghe. Ngôn ngữ lại càng chặt chẽ khi được việt ra thành văn bản, nó có một mục đích để thể hiện. CHo nên, có học thêm được 1 ngoại ngữ tức là ta tiếp cận thêm luồng tư tưởng mới. Thế nhưng, đối với chữ Hán Nôm với tư cách là 1 ngoại ngữ thì chúng ta chẳng có tiếp cận luồng tư tưởng mới nào cả. Tại sao? Bởi lịch sử thứ chữ này lại do chính ta đã từng làm chủ trước người Hán. Thật vậy, giới Nho học vẫn tin với quan điểm rằng, trước khi thống nhất Trung hoa xưa kia, người Hán là dân tộc du mục, quen chăn thả và hiếu chiến. Nhà Tần bị diệt thì đến nhà Hán lên thay vào năm 206TCN, tồn tại khoảng 400 năm cho đến năm 220 Sau Công nguyên. Khi Hán lên thay, nó chủ trương xâm chiếm lãnh thỗ của các tộc trong Bách Việt và dẫn đẩy lùi người Việt về phương nam. Hán gây nên chiến tranh và bệnh tật người dân khốn khổ. Kể từ đó, các triều đình phong kiến ké tiếp của các tộc người khác biến TRUNG hoa trở nên nghèo đói vì chiến tranh. Quả là sự cay đắng. QUay lại lịch sử thứ chữ tượng hình mà ta quen gọi là chữ Hán, Giới Nho học cho tằng người Bách Việt làm chủ nó trong thời gian rất dài, suốt thời kì Thượng Cổ. Vấn đề là, sử dụng thứ chữ này như 1 người Hán (tư duy như người Hán) chúng ta ko làm đc. Vì thế, ta sáng tạo ra chữ Nôm, chữ Nôm thỏa mãn tư duy Việt và làm cho Tiếng Việt trở nên phong phú hơn, bất chấp các thời kì Bắc Thuộc. Tư tưởng Việt lại được chắp cánh bởi chúng ta dùng chữ quốc ngữ hiện nay. Nói một cách bay bổng là chúng ta đang tiến hóa cùng chữ viết. Nhưng bên cạnh đó, thứ chữ của bọn Cộng sản tuyên truyền lại làm cho chúng ta sinh ra chán nản với báo chí và truyền thông. HIện nay, đúng là chúng ta đang mất đi rất nhiều nguồn để củng cố ngôn ngữ tư duy để tiếng Việt có sức mạnh riêng của nó. Vậy nên, một phần trong những công việc phải làm là nghiên cứu thấu đáo thứ chữ Nho (không muốn gọi tên nó là chữ Hán), bởi vì kho tàng thi sách để lại chữ Nho chiếm khá lớn, nếu ta học hỏi đc từ đó quả là 1 cuộc khám phá đáng để chúng ta bỏ công lắm thay.

Mục tiêu học chữ Nho (không muốn viết là chữ Hán Nôm).

Như trên đã trình bày, chữ Hán Nôm có thể bỏ cách gọi đó đi thay vào đó là CHỮ NHO. để khẳng định lịch sử thứ chữ này là của tộc Bách Việt khi xưa, Vậy thì mục tiêu học chữ Nho là gì? đó là học để biết tâm hồn Việt trong thi ca, ca dao dân gian. Để củng cố các từ vựng đang dùng và từ đó dạy tiếng Việt cho tốt hơn.

Muốn vậy, cần có các chuyên gia đầu ngành vào cuộc và có những hậu sinh đam mê, sống đc với môn học này. Nó thuộc về chính sách giáo dục văn hóa của nước nhà.Điều đó khá hệ trọng.

VÌ hệ trọng cho nên cần làm 1 cách chu đáo, khiến cho xã hội an tâm. Không vô tình làm cho các bậc phụ huynh cấp bậc phổ thông trở xuống hoang mang. Như vừa rồi, các cuộc tranh luận trên vietnamnet về việc giảng dạy chữ Nho làm cho dư luận bức xúc rất nhiều, nó quả là thiếu chu đáo lắm. Ông Lê Đoàn Giang trở thành một kẻ bị châm trích tới, và tất cả những ai chống lưng ông ấy cũng vậy thôi.

Làm chu đáo thì phải hướng đến đối tượng sinh viên các ngành như: Công tác XH, Việt Nam học, Sư phạm văn… để chính các em ấy trở thành những người hiểu đc trọn vẹn mục tiêu học chữ Nho, sau đó là đến toàn xã hội.

ĐÔI LỜI VỀ VIỆC DẠY VÀ HỌC “CHỮ HÁN” TRONG CÁC CẤP HỌC PHỔ THÔNG

Tác giả. Nguyễn Thái Nguyên.

Đăng tại Basam.

Trình bày lại, tại trang TIếng Việt THân Yêu.


1/ Trong thời gian qua, có nhiều nhà ngôn ngữ học, nhà giáo, nhà văn… đã góp lời thảo luận sôi nổi về chủ trương đưa việc dạy và học “chữ Hán” vào các cấp học phổ thông. Đúng là chủ trương này vừa hệ trọng, lại rất nhạy cảm, được đưa ra trong thời điểm nhạy cảm nên nhiều ý kiến trái chiều nhau là điều đương nhiên. Dù là thế thì các kiến giải nêu ra thật phong phú và hữu ích, rất đáng quan tâm đối với tất cả mọi người, bất kể là người có chữ Nho hay không có chữ Nho.

Tôi nghĩ chuyện tranh luận đúng sai, phải quấy trên mạng như vừa qua là rất cần thiết, nhất là khi các cơ quan truyền thông chính thống và các cơ quan chức năng của nhà nước còn đang chờ… ý kiến chỉ đạo. Chỉ có điều, đây là cuộc tranh luận về một nội dung của lĩnh vực văn hóa, nên phải được đặt nó trên nền tảng văn hóa, xin đừng khẳng định và quy chụp nhau làm gì. Càng không nên nghi ngờ hay suy đoán người này, người kia có một sự liên hệ nào đó với mớ bùng nhùng về thời sự chính trị hiện nay trong quan hệ Việt – Trung.

2/ Tuy không phải là người trong nghề chữ nghĩa, cũng không làm nghề dạy học, nhưng dù sao cũng có chút vốn chữ vuông, gọi là nho nhe chút đỉnh nên tôi rất quan tâm và phải nói rằng cũng rất hứng thú đọc các kiến giải của các bậc túc Nho “đời mới”, kể cả một số bạn còn rất trẻ. Quả là mỗi người một vẻ. Rõ ràng càng bàn thảo thì tầm mức vấn đề càng rộng lớn chứ không bó hẹp phạm vi như chuyện dạy thêm, học thêm một ngoại ngữ gì đó trong các trường học.

Có một vấn đề chung khiến nhiều người lo lắng, đó là làm gì và làm thế nào để giữ gìn và phát huy được hồn cốt của tiếng Việt? Dù không phải là người trong nghề, nhưng tôi vẫn có thể khẳng định được rằng tiếng Việt đã và đang ở vào tình trạng rất hỗn loạn. Chắc chắn các thầy cô giáo dạy ngôn ngữ và các nhà nghiên cứu trong nghề sẽ cảm nhận cái chướng tai gai mắt hơn chúng tôi nhiều lắm. Điều này không phải bây giờ mới xẩy ra và mới bàn đến mà đã được các nhà chữ nghĩa cảnh báo từ lâu. Nghe mãi thành quen, nói mãi thành quen những câu, những chữ vô nghĩa lý là điều rất tai hại đối với các cháu nhỏ hết lớp này đến lớp khác.

Không đâu xa, ngay trên vỏ hộp sữa hay nước trái cây các cháu bé vẫn uống hàng ngày chẳng hạn, chữ Việt được viết rõ ràng: “Được sản xuất bởi….”, “Ngon hơn khi uống lạnh”. Đây đâu phải là câu tiếng Việt mà chỉ dùng chữ Việt ghép vào theo cấu trúc ngữ pháp của tiếng Tây hay tiếng gì đó thôi. Người Việt sẽ hiểu câu “ngon hơn khi uống lạnh” theo nghĩa nào? Uống lạnh thì ngon hơn hay cứ để thế uống thì ngon hơn so với khi bỏ vào ngăn mát tủ lạnh hay có thêm đá? Vô số câu tiếng Việt rất chuẩn và rất thông dụng, nhưng nhiều người cứ tự nhiên biến hay gò ép nó sang “thể bị động” không biết để làm gì? Sao cứ gò cho được đúng câu “chủ-vị” trong khi tiếng Việt đâu phải lúc nào cũng cần thứ cấu trúc đó? Tôi không nhớ một nhà ngôn ngữ học nào đã nói rất hay về vấn đề này rằng cứ đà này, trong tương lai không xa, chắc các bạn thanh niên Việt Nam sẽ không còn nói câu: “Anh yêu em” đầy tình cảm mà thay bằng câu: “Em được yêu bởi anh” cho nó …hiện đại!

Nhưng nói rằng phải đưa thứ chữ vuông này vào học ở các cấp học phổ thông để “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” thì tôi còn nửa tin, nửa ngờ. Lỗi làm suy thoái tiếng Việt không chỉ thuộc về các thế hệ làm cha làm mẹ và các thầy cô giáo mà còn liên quan đến rất nhiều nhân tố ngoài dạy và học ở trường. Nếu các đài Truyền hình từ Trung ương đến địa phương, báo chí, sách vở đều sử dụng tiếng Việt một cách tùy tiện như những năm qua thì không có thầy cô nào có thể dạy các em nhỏ học và dùng đúng chuẩn của tiếng Việt được. Trách nhiệm này nếu nói của toàn xã hội thì mênh mông quá, nhưng rõ ràng là thuộc về nhiều người, nhiều ngành lắm.

Nói gì thì nói, người Trung Quốc có ý thức cao về việc giữ gìn tiếng nói và chữ viết của họ hơn chúng ta nhiều lắm. Tất nhiên sẽ rất khốn khổ khi ta bắt gặp những tên đất tên người, nhất là các thuật ngữ khoa học thời nay được họ “Hán hóa” làm ta rất khó chịu, không biết đâu mà lần và không phải từ nào cũng có trong Từ điển. Nhưng cứ viết mãi, dùng mãi thì người bản địa họ hiểu. Bộ máy tuyên truyền của nước ta cũng vào loại hùng mạnh nhất, quyền lực nhất, nhưng chỉ tuyên truyền chính trị là thứ các em nhỏ không biết gì và dĩ nhiên không cần đến, còn vai trò của những người có trách nhiệm cũng như có khả năng dạy tiếng Việt, uốn nắn, sửa chữa tiếng Việt cho các em thì có vai trò gì trong hệ thống quyền lực? Chẳng có vai trò gì đáng kể cả. Một hãng xe, khi phát hiện lỗi là ra lệnh thu hồi và sửa lỗi dứt điểm. Vậy ai và “hãng” nào thì có quyền phát hiện lỗi và có quyền lực ra lệnh sửa lỗi cho các phát thanh viên, biên tập viên hay người dẫn chương trình của các đài truyền hình, các phóng viên, biên tập viên của các tòa báo và nhà xuất bản? Chẳng ai cả! Thế thì không có thầy cô nào có thể “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” được đâu thưa quý vị.

3/ Một điều băn khoăn lớn của tôi là tên gọi thứ “chữ vuông” mà ta định đưa vào trường học là chữ gì? Nếu gọi là “chữ Hán” tức là ta gọi theo thói quen từ thời Tây Hán trở về sau. Điều này không phải chính trị hóa gì cả, mà cách gọi đó là sai, rất sai, dù chỉ là thói quen cũng nên bỏ. Khi người Hán thống trị Trung Quốc (206 TCN-220), một mặt chủ trương bành trướng mạnh mẽ xuống phương Nam, chinh phục các nước thuộc cộng đồng Bách Việt, mặt khác họ biến tất cả nền văn minh Bách Việt thành nền văn minh của người Hán, chữ Viết là một trong số đó. Trên thực tế thì thứ chữ vuông ấy không dính dáng gì đến người Hán cả. Khi chữ vuông ra đời, ước muộn nhất cũng vào thời nhà Hạ (2070-1600 TCN), lúc đó tộc người Hán còn là một bộ lạc sống bằng nghề du mục trên cao nguyên Hoàng Thổ. Tổ tiên của người Hán không biết gì về thứ chữ này cả. Thứ chữ ấy chính là chữ Việt, của người Việt, Bách Việt đã từng sinh sống trên một không gian rộng lớn khoảng ba phần tư lãnh thổ Trung Quốc ngày nay. Nhưng bây giờ ta gọi nó là chữ Việt cổ xem ra không ổn, dù chính xác là thế. Vậy, sau mấy ngàn năm, nếu không gọi là chữ Hán, rất không nên gọi như thế (đây là cách cải sửa đầu tiên nên làm) thì gọi nó là chữ gì? Cha ông chúng ta gọi nó là chữ Nho (儒) cũng là một cách gọi rất hay và rất Việt. Không biết các nhà ngôn ngữ học, các nhà giáo có đồng ý được không?

Ấy là tôi đã lạm bàn vào chuyện chữ rồi. Nhưng theo tôi, biết được chữ đã khó, nhất là thứ chữ vuông này, vậy mà chỉ biết chữ lại chưa đủ và chưa thể với tới cái hồn cốt, cái “thần” của tiếng Việt thường ở “ngoài chữ” ấy được. Một bậc đại Nho của nước ta xưa, khi con mình đỗ Tiến sĩ, đã lo lắng gửi con lời căn dặn: “Có được kiến thức sách vở không khó, khó nhất là có được sự hiểu biết đến nơi đến chốn” (Hữu tri vô nan, nan tri đáo). Vậy thì để giữ gìn và phát huy được những gì là tinh hoa trong truyền thống văn hóa mà cổ nhân đã để lại bằng chữ Nho ấy, cần có một đội ngũ tinh hoa được đào tạo sâu và có chính sách để họ có thu nhập đủ sống bằng nghề chữ này chứ không thể dựa vào lòng tốt của một số người mãi được. Ví như ta có một Viện Hán Nôm, nhưng cái Viện này có vị thế ra sao trong hàng trăm Viện đang tồn tại? Tuy tôi không biết nhiều về Viện này nhưng cũng dám đoan chắc rằng chẳng có ông lãnh đạo nào biết đến cái Viện Hán Nôm nằm ở nơi “heo hút” cuối con đường Đặng Tiến Đông cả đâu.

Sao chúng ta không hình thành được một đội ngũ chuyên nghiệp về Hán Nôm có trình độ cao? Phải có một đội ngũ như thế mới có thể chuyển tải dần dần kho tàng tri thức đồ sộ của tổ tiên chúng ta ra chữ quốc ngữ ngày nay thì quảng đại hậu thế mới tiếp nhận được. Còn như việc dạy và học trong các trường phổ thông để có nhiều người sẽ thông thạo chữ Nho lại là việc cần được làm thận trọng, kiên trì rất lâu dài. Đúng là ngân sách quốc gia đang rất hạn hẹp, nhưng lại đang bị chi tiêu một cách hết sức lãng phí, đầy tiêu cực. Không có lý do nào để nói rằng chúng ta không đủ tiền để đầu tư cho những lĩnh vực rất quan trọng này. Nhiều lắm thì ngân sách đầu tư vào việc này cũng chỉ ngang mức đầu tư để hình thành một lực lượng “Dư luận viên” cực kỳ đông đảo như hiện nay. Vấn đề còn lại chỉ là nhận thức và trách nhiệm của những người lãnh đạo đất nước mà thôi./.

Hà Nội, ngày 14/9/2016

Nguyễn Thái Nguyên

Continue reading ĐÔI LỜI VỀ VIỆC DẠY VÀ HỌC “CHỮ HÁN” TRONG CÁC CẤP HỌC PHỔ THÔNG

Những hạt sạn quá cỡ trong tác phẩm : “Văn minh vật chất của người Việt”

sach

Cuốn Văn minh vật chất của người Việt (VMVCCNV) của Họa sĩ – nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng là một công trình nghiên cứu đồ sộ, công phu bao gồm nhiều lĩnh vực: văn hóa, xã hội, văn học, lịch sử, mỹ thuật, rồi cả khảo cổ nữa…

Nhưng vì ông đã tự tin và dũng cảm một mình một ngựa rong ruổi trên khắp “thảo nguyên” mênh mông và sâu thẳm của nền văn minh vật chất của người Việt nên đã không tránh khỏi những hồ đồ, thậm chí là ngộ nhận rất tai hại nguy hiểm.

Người viết bài này không ý định vạch lá tìm sâu, nhưng cực chẳng đã, không thể không lên tiếng.

Chỉ ở riêng góc độ văn hóa, mà khi xem, đọc đến những chi tiết sẽ nêu sau đây, tôi cứ thấy nó gai gai ở sống lưng, có cảm giác như lúc đang nhai một miếng ngon bất ngờ gặp hạt sạn quá cỡ.

Ở trang 37 tác giả in lại hình vẽ trích trong sách Kỹ thuật của người An Nam, của Henri Oger, NXB Thế giới 2009 với hình hai ngôi nhà có những dòng chữ Nôm ở trên tường cùng một chú thích: Phố An Nam. Trên tường nhà có ghi: Đ. Mẹ cha đứa nào ở trong cái nhà này. Có phải là người Việt xưa tự chửi mình không? Hay là Tây nó chửi mình? Mà sao nỡ chép lại, trích lại một cách tự nhiên, hồn nhiên thế, vô ý thức đến thế?

Ở trang 256, tác giả nói về việc hai con chó đi tơ (giao phối) và viết “cả người lớn và trẻ con xúm lại xem như một trò tiêu khiển thích thú”. Khổ quá! Một cái việc “lẹo mắt” tục tĩu tục tằn thô thiển đến thế sao lại nỡ viết là “trò tiêu khiển thích thú” được?

Trang 562, tác giả viết: “Ở thành phố, những giấy thải dùng sau khi phóng uế cũng được nhặt lại rửa sạch và đúc thành mũ cát”. Ở chi tiết này thì tác giả vừa hồ đồ lại vừa mất vệ sinh. Hồ đồ ở chỗ mũ cát ngày trước được làm từ những loại cây thân xốp (nhẹ như bấc, vùng Nam Định gọi là cây nhút, Thanh Hóa gọi cây phao đỉa) chứ không phải bằng bột giấy đúc (hay lá ép). Mất vệ sinh ở chỗ không ai mang cái thứ đã làm vệ sinh ấy mà chế ra cái thứ đội ở đầu cả. Đành là (và đồng ý là) dân ta nghèo, càng xa xưa càng nghèo. Nghèo nhưng mà không hèn, không bẩn, không hạ tiện. Ông bà xưa đã dạy nhau và dạy ta rằng “Đói cho sạch rách cho thơm”.

Trang 297 tác giả viết: “khi dùng mật trong xây dựng người ta thường đái vào đó một bãi để thợ khỏi ăn vụng”. Đúng là người Việt xưa khi xây nhà thường trộn mật mía vào vữa để tăng độ liên kết bền chắc. Song không phải ai cũng đủ tiền để mua mật trộn vữa. Và thường thì người ta chỉ trộn mật để xây đình, chùa, đền miếu và những bộ phận quan trọng là con trạch hoặc đầu đao trên mái nhà. Trộm hỏi có người Việt cổ nào dám cả gan to mật mà tiểu tiện vào những thứ linh thiêng ấy.

Trang 555, khi bàn về sự “va vấp với đời sống vật chất hiện đại, theo cách hiểu nào đó là va vấp với đời sống kỹ nghệ phương Tây có mặt ở Việt Nam”, tác giả trích hai câu trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu: “Bữa thấy bòng bong che  trắng lốp, muốn tới ăn gan/Ngày xem ống khói chạy đen xì, muốn ra cắn cổ”. Rồi tác giả diễn giải: “Bòng bong ở đây là cái lều trại của quân đội thực dân Pháp, và ống khói chạy đen xì là tàu thủy thôi. Đó là những kỹ nghệ phương Tây đầu tiên mà người dân Nam Bộ trông thấy và khiếp sợ (…). Rồi người Việt lại quay ra sùng bái văn minh vật chất phương Tây…”.

Mới nhìn đã giận dữ muốn ăn gan, đã căm thù muốn cắn cổ rồi, thì sao lại sùng bái sợ hãi. Đã sùng bái và khiếp sợ thì còn động lực nào mà dám cắn cổ ăn gan nữa?…

Giá như tên cuốn sách được đặt là “Cảm nhận về VMVCCNV”. Ừ, thì thôi. Đó là cảm nhận riêng của nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng. Nhưng đằng này, nó lại là VMVCCNV như là một thứ “bán từ điển” cho đời nay và cho đời sau tham khảo, tra cứu về gốc gác văn minh của cha ông mình, thì quả là tai hại!

Minh Tâm

http://thanhnien.vn/van-hoa/nhung-hat-san-qua-co-trong-van-minh-vat-chat-cua-nguoi-viet-159041.html